Một Cái Nhìn Về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo: Vai Trò Của Doanh Nhân (Phần 2)

10-28-2016

+ Phaolô Nguyễn Thái Hợp

Giám mục giáo phận Vinh

 

4. SỨ VỤ CỦA DOANH NHÂN

Từ những nhận định tổng quát ở trên, chúng ta cùng nhau suy nghĩ về vai trò và sứ vụ của doanh nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa, cũng như nền kinh tế tri thức

4.1. Vai trò của tư bản nhân văn

Khi thẩm định giá trị của doanh nghiệp, thông điệp “Bách chu niên” nhấn mạnh đến yếu tố sáng tạo, khả năng quản trị, tinh thần lao động tập thể và có kỷ luật... Theo thông điệp, cùng với đất, tài nguyên chính yếu của con người là chính con người. Đó là trí thông minh làm cho con người khám phá được những tiềm năng sản xuất của Trái Đất, cũng như nhiều cách thế để thỏa mãn các nhu cầu của con người”. Ngoài ra, để thực hiện tốt tiến trình công nghiệp hóa, các doanh nhân cũng phải có những đức tính quan trọng khác như “chăm chỉ, cần cù, khôn ngoan trong khi chấp nhận những rủi ro hữu lý, đáng tin cậy và chân thành trong các quan hệ liên nhân vị, can đảm trong việc thực hiện các quyết định khó khăn và đau đớn, nhưng cần thiết cho công việc chung của doanh nghiệp và để đương đầu với những rủi ro có thể xảy ra”[10].

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, “tư bản nhân văn”
[11] ngày càng đóng vai trò chủ động: Nếu ở giai đoạn tiền công nghiệp, “đất đai là yếu tố quyết định của sản xuất, và sau đó, là tư bản, hiểu như toàn bộ máy móc và phương tiện sản xuất, thì ngày nay yếu tố càng lúc càng có tính quyết định lại là chính con người, nghĩa là khả năng hiểu biết của con người thể hiện trong kiến thức khoa học, tài tổ chức, cũng như khả năng nắm bắt và thỏa mãn những nhu cầu của người khác”[12].

Chính vì vậy, Giáo huấn xã hội quan niệm sáng kiến cá nhân như một yếu tố căn bản trong sinh hoạt nhân loại nói chung và trong sinh hoạt kinh tế nói riêng. Đây cũng là một quyền căn bản và bất khả chuyển nhượng. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo viết: “Mỗi người có quyền có sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế, sử dụng cách chính đáng các tài năng của mình để đóng góp vào sự thịnh vượng cho mọi người, và gặt hái những hiệu quả chính đáng do các nỗ lực của mình”
[13]. Phủ nhận quyền sáng kiến này thì vừa xâm phạm đến nhân quyền, vừa làm phương hại đến sự phát triển kinh tế.

Từ đó chúng ta dễ dàng hiểu được vai trò của các doanh nhân trong công cuộc phát triển đất nước. Họ được đặt ở trung tâm của cả một hệ thống phức tạp, bao gồm các quan hệ kỹ thuật, thương mại, tài chính, văn hóa… Chính họ là người đã đưa ra các cuộc cải cách táo bạo, các sáng kiến hay, phương pháp sản xuất tối tân, sản phẩm độc đáo và nhất là phải chấp nhận rủi ro khi quyết định đầu tư vào lãnh vực mới. “Khả năng nhận diện đúng lúc những nhu cầu của tha nhân và toàn bộ những yếu tố sản xuất thích hợp nhất để thoả mãn những nhu cầu ấy, tạo thành một nguồn quan trọng khác cho sự giàu có trong xã hội ngày nay. Hơn nữa, có nhiều thứ của cải không thể sản xuất một cách thích đáng bằng công sức của một cá nhân đơn độc, mà đòi hỏi sự cộng tác của nhiều người trong cùng một mục tiêu. Kiến tạo  một nỗ lực sản xuất như thế, lên chương trình về thời gian, lưu tâm để đáp ứng các nhu cầu cần được thoả mãn và chấp nhận những mạo hiểm cần thiết: Tất cả những cái đó cũng tạo nên nguồn của cải trong xã hội hôm nay. Như vậy, vai trò của lao động con người, lao động có tổ chức và sáng tạo, cũng như khả năng sáng tạo và tinh thần doanh nghiệp là những yếu tố càng ngày càng hiển nhiên và mang tính quyết định”
[14].

Các doanh nhân được mời gọi để đảm nhận trách nhiệm phục vụ công ích qua  quyết định sản xuất những hàng hóa hữu ích, chất lượng tốt, giá thành hạ, đồng thời giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và nguyên liệu thiên nhiên, bằng cách đưa thêm chất xám và quy trình sản xuất tân tiến. Khi một doanh nhân nâng cao chất lượng hay hạ giá thành một sản phẩm hoặc dịch vụ, dĩ nhiên sẽ chiếm lợi thế trên thị trường và sẽ tăng cao lợi nhuận. Sự thành công này không những sẽ làm giàu cho bản thân họ, mà còn làm giàu cho đất nước, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho nhiều người. Ở đây, việc tăng thêm lợi nhuận nhờ tạo thêm giá trị gia tăng đã góp phần vào công cuộc phát triển. Từ niềm tin Kitô giáo, phải chăng đây cũng là một hành động bác ái: thuật ngữ chuyên môn gọi là bác ái gián tiếp.

Hôm nay cũng như ngày xưa, vẫn luôn xảy ra những thảm họa, thiên tai lụt lội và nhiều trường hợp bất hạnh khác, cần đến hành động bác ái trực tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, trong công cuộc phát triển đất nước phải đặt nặng kế hoạch trung và dài hạn, nghĩa là phải đề cao sáng kiến của các doanh nhân và những hình thức bác ái gián tiếp nói trên. Với tiến trình công nghiệp hóa, các doanh nhân ngày càng đóng vai trò chủ động trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao hơn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.

Trong bối cảnh siêu cạnh tranh của toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp, nhiều rủi ro và phải chấp nhận những điều kiện cạnh tranh gay gắt. Các chủ xí nghiệp phải cân nhắc, đắn đo nhiều hơn trước khi quyết định. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội ý thức được những khó khăn, tầm quan trọng và hậu quả kinh tế – xã hội của những quyết định này. Tuy nhiên, bất chấp các nghịch cảnh và điều kiện kinh tế khó khăn, Giáo Hội luôn kêu gọi các doanh nhân khi lấy quyết những định quan trọng này không nên chỉ nghĩ đến mục tiêu kinh tế, mà cần lưu ý tới các yếu tố xã hội, nhân bản và đạo đức nữa.

Tài liệu của Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình viết: “Các chủ doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp không thể chỉ chú ý đến mục tiêu kinh tế của công ty, các tiêu chuẩn về hiệu năng kinh tế, những yêu sách bảo toàn “vốn”, tức toàn thể các phương tiện sản xuất. Họ còn có nghĩa vụ tôn trọng một cách cụ thể nhân phẩm của những người lao động trong công ty (…). Trong khi lấy những quyết định quan trọng về chiến lược và tài chánh, mua hay bán, tái tổ chức hay đóng cửa các phân xưởng hoặc sát nhập chúng, không thể chỉ giới hạn nơi những tiêu chuẩn thuộc lãnh vực tài chánh và thương mại mà thôi”
[15].

4.2. Trách nhiệm xã hội

Khi phân tích và phê phán quan điểm của phái “Tân tự do kinh tế”, thông điệp “Tình yêu trong chân lý” nêu lên một số sai lạc và nguy hiểm của chủ trương “lợi nhuận vị lợi nhuận”. Một trong những nguy hiểm lớn nhất là quan niệm cho rằng “doanh nghiệp hầu như chỉ chịu trách nhiệm đối với những người đầu tư và do đó giá trị xã hội của doanh nghiệp bị giảm thiểu. Vì phải phát triển không ngừng và vì nhu cầu vốn luôn gia tăng, các doanh nghiệp ngày càng ít (…) gắn bó với một lãnh thổ duy nhất. Ngoài ra, hình thức sản xuất gia công có thể làm cho doanh nhân xem trách nhiệm đối với các nhóm lợi ích – nghĩa là các công nhân, nhà cung cấp, người tiêu dùng, môi trường và xã hội rộng lớn chung quanh – thấp hơn trách nhiệm đối với các cổ đông, là những người không bị ràng buộc bởi một nơi chốn nhất định và được hưởng một sự chuyển dịch khác thường”[16].

Không ai phủ nhận là thị trường vốn quốc tế hiện nay rất năng động và tự do chảy vào những nơi có lợi nhuận cao. Nhiều nước và nhiều vùng kinh tế cũng đang “trải thảm đỏ” để thu hút đầu tư nước ngoài. Cũng không thiếu những doanh nhân trở thành những nhà “đầu tư chớp thời cơ” theo kiểu “đất lành chim đậu, đất dữ chim bay”. Thông thường, đây là loại đầu tư ngắn hạn, chợt đến rồi vội vã phủi tay ra đi khi lợi nhuận giảm, chẳng chút bịn rịn và không hề cảm thấy có trách nhiệm nào đối với địa phương.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây đang gia tăng nơi giới doanh nhân ý thức về  “trách nhiệm xã hội” và nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Mặc dù việc quan tâm đến những hậu quả nảy sinh từ hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung đã có từ khá lâu, nhưng khái niệm trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp mới xuất hiện vào giữa thế kỷ XX
[17]. Hiện nay, các tác giả giải thích và định nghĩa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo quan điểm triết học của H. Jonas[18], “nguyên tắc trách nhiệm hệ tại ở việc hành xử như thế nào đó để các hành động của mình không mang tính hủy hoại đối với những nguồn tài nguyên cho sự sống tương lai trên trái đất này. Trách nhiệm này trở thành một mô thức hành động: hành xử một cách có trách nhiệm có nghĩa là suy nghĩ đến những hậu quả của các hành vi đối với chính mình và nhất là đối với người khác”[19].

F. Ewald cho thấy khái niệm “trách nhiệm” có một quá trình tiến hóa qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu chú trọng đến trách nhiệm đối với hành vi, nhấn mạnh đến nghĩa vụ bồi thường khi gây ra những tổn thất; giai đoạn thứ hai, gắn liền với xã hội công nghiệp đương đại, nhấn mạnh đến ý tưởng phòng ngừa các tai nạn, các mối đe dọa và các nguy cơ; giai đoạn thứ ba nhấn mạnh đến nguyên tắc dự phòng,  hướng về tương lai, nhắm tới thứ trách nhiệm trước những nguy cơ của một thế giới đang tiến hóa vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của con người
[20].

Nếu Milton Friedman và trường phái Chicago cho rằng trách nhiệm duy nhất của các doanh nhân là tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì càng ngày càng nhiều người đồng thuận với Liên minh Âu châu khi cho rằng doanh nghiệp phải quan tâm đến các cá nhân và các nhóm có thể bị tác động bởi hoạt động của doanh nghiệp hay có thể ảnh hưởng đối với các hoạt động đó. “Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ khế ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên)”
[21].

Để chống lại khuynh hướng “tìm lợi nhuận tối đa”, những vụ bê bối về tài chánh và nền “kinh tế bong bóng”, một số doanh nghiệp và doanh nhân đang đi tiên phong trong việc nối kết doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Giáo chủ Biển Đức XVI tích cực khích lệ trào lưu này. Thông điệp “Tình yêu trong chân lý” viết: “Cho dù các quan điểm đạo đức đang hướng dẫn cuộc thảo luận hiện nay về “trách nhiệm xã hội” của xí nghiệp chưa hoàn toàn đồng nhất với viễn quan của Giáo huấn xã hội Công giáo, nhưng trên thực tế đang gia tăng niềm xác tín theo đó ban quản trị doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến lợi ích của chủ sở hữu, mà còn phải quan tâm đến tất cả những ai đóng góp cho sự sống còn của doanh nghiệp: công nhân, khách hàng, nhà cung cấp các yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng liên hệ (…). Cũng có nhiều nhà quản trị hiện nay, nhờ biết nhìn xa trông rộng, ngày càng ý thức hơn mối tương quan sâu xa giữa doanh nghiệp với lãnh thổ hay với các lãnh thổ mà họ đang hoạt động”.

Giáo chủ Biển Đức XVI công nhận rằng, dưới góc độ thuần túy kinh tế, “một số vốn nào đó có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn, nếu ta đầu tư nó ở nước ngoài thay vì đầu tư tại quê hương”. Nhưng, đứng trên quan điểm đạo đức, chúng ta không thể không “quan tâm đến những đòi hỏi của công bằng về nguồn gốc khai sinh số vốn đó và những thiệt hại mà các cá nhân phải gánh chịu nếu số vốn này không được sử dụng ở những nơi đã sinh ra chúng (…). Lao động và kiến thức kỹ thuật là một thứ hàng hóa phổ quát. Nhưng, không được phép xuất khẩu những mặt hàng này chỉ để hưởng lợi một cách đặc biệt, hoặc tệ hơn nữa, để bóc lột xã hội địa phương mà không đem lại cho họ sự đóng góp đích thực để hình thành một hệ thống sản xuất và xã hội bền vững” 
[22].

Doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân vừa là mô hình kinh tế, vừa là mô hình chính trị đã thống trị thế giới trong một thời gian rất dài. Tại một vài nơi, người ta vẫn coi chúng như hai loại doanh nghiệp chủ đạo. Nhưng trong mấy thập niên gần đây đã có một số biến đổi tích cực trong thế giới doanh nghiệp. Thông điệp “Tình yêu trong chân lý” mời gọi chúng ta khám phá tính đa dạng và phong phú của thế giới doanh nghiệp đương đại. “Trên thực tế, hoạt động kinh doanh cần phải được hiểu một cách khác (…). Hoạt động kinh doanh hàm chứa ý nghĩa nhân bản, trước khi mang ý nghĩa nghề nghiệp. Nó hiện diện nơi tất cả các công việc, và được nhìn như hành vi nhân vị, vì thế thật tốt đẹp khi mỗi công nhân có cơ hội được góp phần riêng của mình”
[23] vào sinh hoạt này.

Theo thông điệp, “chính vì muốn đáp ứng những đòi hỏi và phẩm giá của người lao động, cũng như những nhu cầu của xã hội, mà xuất hiện nhiều loại doanh nghiệp khác nhau, chứ không chỉ đơn thuần phân chia thành hai loại doanh nghiệp “tư nhân” và “quốc doanh”. Mỗi loại doanh nghiệp đòi hỏi và thể hiện một khả năng kinh doanh đặc thù. Để vươn tới một nền kinh tế tương lai có khả năng phục vụ lợi ích quốc gia và quốc tế, cần quan tâm đến ý nghĩa nới rộng này của hoạt động kinh doanh. Quan niệm này cổ võ sự trao đổi và phong phú hóa lẫn nhau giữa các mô hình kinh doanh khác nhau, với sự chuyển đổi thẩm quyền từ thế giới “phi lợi nhuận” sang thế giới “lợi nhuận” và ngược lại, từ lãnh vực công sang lãnh vực tư của xã hội dân sự, từ các nền kinh tế tiên tiến sang các nước đang phát triển”
[24].

Dưới cái nhìn của Đức Giáo chủ Biển Đức XVI, hiện tượng đa diện hóa các mô hình kinh doanh và nhất là việc phổ biến rộng rãi các “mô hình có khả năng coi lợi nhuận như một phương tiện để đạt tới những mục tiêu nhân bản hóa thị trường và xã hội”
[25]Công tác này cần thực hiện không những ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển và ngay tại các nước đang bị loại trừ khỏi dòng chảy chung của kinh tế thế giới.

 


 

[10] Ibidem, 32.
[11] Có người gọi là “vốn con người”, nhưng thực ra để trở thành vốn quý trong nền kinh tế tri thức không phải “bất cứ con người nào”, mà phải là con người được đào tạo, có chuyên môn, có kỹ năng và những đức tính thích hợp. Vì vậy, đề nghị dịch “human capital” là tư bản nhân văn.
[12] Ibidem, 32.
[13] Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 2429.
[14] Bách chu niên, số 32.
[15] Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 344.
[16] Biển Đức XVI, Tình yêu trong chân lý, số 40.
[17] Xem Michel Capron & Fr. Quairel-Lanoizelée, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,NXB Tri Thức, 2009; H.R. Bowen, Social Responsability of the Businessman, New York, 1953; Cao ủy Liên minh châu Âu, Promouvoir un cadre européen pour la responsibilité sociale des entreprises, Sách xanh, 2001; A. Habisch & al. (dir.), Corporate Social Responsibility Across Europe, Berlin, 2005; R. Sainsaulieu (dir.), L’Entreprise, une affaire de société, Paris, 1999.
[18] Xem Hans Jonas, Le Principe responsabilité, Paris, 1990.
[19] Michel Capron & Fr. Quairel-Lanoizelée, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, NXB Tri Thức, 2009, 43.
[20] Xem F. Ewald, « L’expérience de la responsabilité », in Qu’est-ce qu’être responsable ?,Sciences humaines de communication, Auxerne, 1977, 57-81.
[21] Michel Capron & Fr. Quairel-Lanoizelée, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sđd., 49.
[22] Biển Đức XVI, Tình yêu trong chân lý, số 40.
[23] Ibidem, số 41.
[24] Ibidem.
[25] Ibidem, số 47.



Sản phẩm doanh nghiệp